Trang web cung cấp thông tin về các sản phẩm mới và hỗ trợ mua sắm tại các nhà bán lẻ, mang lại sự tiện lợi tối đa cho bạn.
Việc ứng dụng vi sinh vật trong quản lý môi trường ao nuôi tôm là một giải pháp sinh học được sử dụng rộng rãi nhằm kiểm soát chất lượng nước, giảm tích tụ chất hữu cơ và hạn chế sự hình thành các hợp chất độc hại. Trong hệ sinh thái ao nuôi, vi sinh hiếu khí và vi sinh kỵ khí đảm nhận những chức năng khác nhau nhưng có tính bổ trợ lẫn nhau, tạo thành chu trình chuyển hóa chất thải tương đối hoàn chỉnh. Sự kết hợp hợp lý giữa hai nhóm vi sinh này góp phần ổn định môi trường nuôi, nâng cao sức khỏe vật nuôi và cải thiện hiệu quả sản xuất.
Vi sinh hiếu khí hoạt động trong điều kiện có oxy hòa tan, chủ yếu tại cột nước và lớp bề mặt đáy ao. Các nhóm vi khuẩn thường được ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản bao gồm Bacillus spp., Nitrosomonas spp. và Nitrobacter spp.. Trong đó, các chủng Bacillus có khả năng tiết enzyme ngoại bào để phân hủy chất hữu cơ, thức ăn dư thừa và chất thải của tôm; trong khi các vi khuẩn nitrat hóa như Nitrosomonas và Nitrobacter tham gia chuyển hóa amoniac (NH₃/NH₄⁺) thành nitrit (NO₂⁻) và tiếp tục thành nitrat (NO₃⁻) thông qua quá trình nitrat hóa (nitrification) (Ebeling et al., 2006).
Quá trình này giúp làm giảm độc tính của amoniac và nitrit trong nước, đồng thời cải thiện chất lượng môi trường sống của tôm. Việc duy trì mật độ vi sinh hiếu khí thích hợp còn góp phần giảm lượng chất hữu cơ lơ lửng, tăng độ ổn định của hệ sinh thái ao nuôi và hạn chế điều kiện thuận lợi cho một số vi khuẩn gây bệnh phát triển.
Tại lớp bùn đáy hoặc các vùng có hàm lượng oxy thấp, vi sinh kỵ khí và vi sinh thiếu khí (anoxic microorganisms) đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục phân hủy các hợp chất hữu cơ tích tụ. Các nhóm vi sinh này sử dụng các chất nhận electron khác ngoài oxy, trong đó nitrat (NO₃⁻) là một trong những chất nhận phổ biến.
Thông qua quá trình khử nitrat (denitrification), vi sinh vật chuyển hóa nitrat thành khí nitơ (N₂) và giải phóng ra môi trường, góp phần loại bỏ nitơ dư thừa khỏi hệ thống ao nuôi (Tchobanoglous et al., 2014). Đồng thời, hoạt động của vi sinh vật trong lớp bùn đáy giúp giảm tích tụ chất hữu cơ, hạn chế hiện tượng lão hóa đáy ao và giảm nguy cơ phát sinh các vấn đề môi trường do bùn thải tích tụ kéo dài.
Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này phụ thuộc đáng kể vào điều kiện quản lý ao nuôi. Khi lượng chất hữu cơ tích tụ quá lớn hoặc đáy ao rơi vào trạng thái yếm khí nghiêm trọng, một số quá trình phân hủy kỵ khí không mong muốn có thể xảy ra, dẫn đến sự hình thành các khí độc như hydro sulfide (H₂S) hoặc methane (CH₄). Do đó, việc kiểm soát tải lượng hữu cơ và duy trì điều kiện môi trường phù hợp là yếu tố cần thiết để phát huy hiệu quả của hệ vi sinh kỵ khí.
Ủ hiếu khí và ủ kỵ khí đều là những kỹ thuật quan trọng trong nuôi trồng thủy sản nhưng phục vụ các mục đích khác nhau. Ủ hiếu khí phù hợp để nhân sinh khối Bacillus và xử lý môi trường ao nuôi, trong khi ủ kỵ khí thích hợp cho việc lên men thức ăn, tạo probiotic và các chất chuyển hóa có lợi. Việc lựa chọn phương pháp cần dựa trên loại chế phẩm vi sinh sử dụng, mục tiêu xử lý và điều kiện thực tế của hệ thống nuôi để đạt hiệu quả tối ưu.
De Schryver, P., Crab, R., Defoirdt, T., Boon, N., & Verstraete, W. (2008). The basics of bio-flocs technology: The added value for aquaculture. Aquaculture, 277(3–4), 125–137. https://doi.org/10.1016/j.aquaculture.2008.02.019
Ebeling, J. M., Timmons, M. B., & Bisogni, J. J. (2006). Engineering analysis of the stoichiometry of photoautotrophic, autotrophic, and heterotrophic removal of ammonia-nitrogen in aquaculture systems. Aquaculture, 257(1–4), 346–358. https://doi.org/10.1016/j.aquaculture.2006.03.01
(Thêm Youtube)